Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
CÁC DÂN TỘC HUYỆN NAM TRÀ MY BÌNH ĐẲNG, ĐOÀN KẾT, ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN
hoctaphcm

Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số huyện Nam Trà My lần thứ II năm 2014

Thứ năm - 06/08/2015 04:58

Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số huyện Nam Trà My diễn ra trong không khí toàn Đảng, toàn quân và toàn dân tỉnh nhà dành tình cảm đặc biệt và quyết chí thực hiện nhiệm vụ để hưởng ứng mạnh mẽ các sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, dân tộc: kỷ niệm 69 năm Quốc khánh 2/9, 70 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944-22/12/2014). Nên ý nghĩa chính trị - xã hội - văn hóa của Đại hội càng sâu sắc hơn.Về Dự đại hội có đồng chí Nguyễn Ngọc Quang, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Trưởng Ban chỉ đạo Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh cùng 141 đại biểu ưu tú đại diện cho hơn 26 nghìn đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện.

(Đồng chí Nguyễn Thị Tuyết Thanh, Phó Bí thư Huyện ủy phát biểu tại Đại hội)

(Đồng chí Nguyễn Thị Tuyết Thanh, Phó Bí thư Huyện ủy phát biểu tại Đại hội)

  Huyện Nam Trà My là vùng núi cao của tỉnh Quảng Nam, cách tỉnh lỵ 95 km theo hướng Tây Nam, diện tích tự nhiên 82,253 ha, huyện có 10 xã với 42 thôn 225 nóc, địa hình hiểm trở, phức tạp, đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm 97%. Trong đó: Ca dong chiếm 54,49%, Xê đăng chiếm 35,40%, Bh’noong chiếm 7,11%, Kinh chiếm 2,84%, Cor chiếm 0,09% và các dân tộc khác chiếm 0,07%; 9/10 xã có đường có đường ô tô đến trung tâm xã; 22/43 thôn có điện lưới quốc gia. Đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện sống xen kẽ với nhau, có truyền thống bám đất giữ rừng, cần cù lao động, đoàn kết cộng đồng, bình đẳng, yêu thương đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau.
          Trong 5 năm qua, được sự quan tâm của lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành cuả Huyện ủy, HĐND, UBND huyện; sự phối hợp của các cơ quan, ban, ngành, Mặt trận đoàn thể, tình hình dân sinh kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục được phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể. Thu nhập bình quân đầu người ước tính 4,6 triệu/người/năm (tăng 3 triệu đồng so với năm 2009). Việc đầu tư cơ sở hạ tầng, cấp đất sản xuất cho dân, các thiết chế văn hóa được đầu tư xây dựng và quan tâm triển khai thực hiện một cách đồng bộ, qua đó giúp cho đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào được nâng lên. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Bằng nhiều nguồn vốn lồng ghép để thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững, cùng với việc triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ giảm nghèo như: Tín dụng ưu đãi hộ nghèo, khuyến nông - khuyến lâm; hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo theo Chương trình 134, 135... đã góp phần tạo điều kiện cho đồng bào phát triển sản xuất, thu nhập ổn định, từng bước nâng cao mức sống.  

           Chương trình Nghị quyết 30a của Chính phủ đã thực hiện có hiệu quả. Tổng nguồn vốn chương trình 30a trên địa bàn huyện từ năm 2009 đến nay là 225.819 triệu đồng. Được sử dụng để đầu tư gần 100 công trình trọng điểm, bức thiết như đường giao thông, thủy lợi, nước sinh hoạt, trường học góp phần cải thiện đáng kể cơ sở hạ tầng của một huyện nghèo, tạo nên một diện mạo mới của vùng cao, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của địa phương. Công tác giáo dục tiếp tục được chú trọng, các chính sách của Đảng, Nhà nước đối với con em đồng bào các dân tộc đến với từng đối tượng. Đến nay, toàn huyện có 28 trường học ở các cấp học với với 8.432 học sinh, trong đó, tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số chiếm 97,9%.         
           Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, nhân dân các dân tộc trong huyện đã đồng lòng đóng góp công sức, vật liệu và tiền mặt để xây dựng các công trình dân sinh. Các chính sách dân tộc cũng đã được huyện, các ban, ngành triển khai kịp thời như biểu dương các già làng, người có uy tín, thăm tặng quà nhân dịp Tết nguyên đán, cho vay vốn phát triển sản xuất...
           Những bản sắc văn hoá riêng của mỗi dân tộc được lưu giữ. Một số Lễ hội truyền thống của các dân tộc Cadong, Xê đăng, Bh’noong như Lễ hội đâm trâu, Mừng lúa mới, Cúng máng nước...được tổ chức thường xuyên. Các món ăn ẩm thực của Đồng bào Cadong, Xê đăng, BH’noong mang đậm hương vị núi rừng như canh rau doi nấu tấm, bánh sừng trâu, cơm lam, thịt nướng, cá niêng, canh rau ranh nấu ốc, cá khô chấm muối, các loại rau mang hương vị núi rừng. Việc lưu giữ và truyền bá tiếng dân tộc cũng được quan tâm bằng việc mở nhiều lớp dạy tiếng Cadong, Xê đăng, BH’noong cho cán bộ, công chức, viên chức của huyện nhằm nâng cao khả năng giao tiếp với nhân dân trong quá trình công tác tại cơ sở. Song song với việc lưu giữ bản sắc văn hoá truyền thống, các hủ tục trong việc cưới, việc tang đã được loại bỏ. Trong phát triển kinh tế gia đình bà con cũng đã nhanh chóng tiếp thu và ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất có hiệu quả. Nhờ đó, đã xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu trong phát triển kinh tế là người dân tộc thiểu số. Xây dựng đội ngũ cán bộ trẻ là người dân tộc thiểu số có bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực quản lý, điều hành công việc ở cơ sở.
          Bên cạnh những kết quả đạt được trong công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc của huyện Nam Trà My còn những khó khăn, hạn chế như: Kinh tế của huyện còn chậm phát triển, tỉ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn cao, một số hộ thoát nghèo nhưng chưa thực sự vững chắc; một bộ phận đồng bào có tư tưởng không muốn thoát nghèo; cá biệt có hộ không chịu làm ăn, chỉ trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước. Theo kết quả rà soát hộ nghèo năm 2013, toàn huyện có 4.527 hộ nghèo chiếm 72,05%; 732 hộ cận nghèo chiếm 11,65%; công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân còn hạn chế, công tác xã hội hóa giáo dục còn thiếu đồng bộ, tình trạng học sinh bỏ học giữa chừng vẫn còn xảy ra, chất lượng dạy và học còn thấp.
          Giai đoạn 2014 - 2019, huyện Nam Trà My tiếp tục ưu tiên thực hiện có hiệu quả các chính sách dành cho đồng bào dân tộc thiểu số. Trong đó đặc biệt chú trọng việc huy động nguồn lực, khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của địa phương để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững; duy trì và phát triển các phong trào văn hóa, bảo tồn và phát triển văn hóa Ca dong, Xê Đăng, Bh’noong; cải thiện đời sống nhân dân, năng cao chất lượng nguồn nhân lực. Củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, bảo đảm an ninh quốc phòng.
          Đặc biệt, Đại hội vinh dự được đón tiếp và nghe ý kiến phát biểu chỉ đạo đầy tâm huyết và trách nhiệm cao đối với  đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn của đồng chí: Nguyễn Ngọc Quang, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Trưởng Ban chỉ đạo Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh, đồng chí đã biểu dương những kết quả mà Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Nam Trà My đã đạt được trong thời gian qua và căn dặn đồng bào các dân tộc thiểu số huyện Nam Trà My phải tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, ra sức phấn đấu lao động, học tập, thi đua lao động sản xuất và giữ gìn khối đại đoàn kết các dân tộc thật tốt.Nhân dịp này Huyện Nam Trà My đã tặng giấy khen cho 17  tập thể và  32 cá nhân đã có thành tích xuất sắc trong thực hiện các chính sách đại đoàn kết các dân tộc. Đại hội đã bầu ra 46 đại biểu đi dự Đại hội đại biểu dân tộc thiểu số cấp tỉnh. 
          Một số hình ảnh về Đại hội:
 

(Tiết mục múa "Âm vang Trà My")


(Tiết mục hòa tấu coong  đá)

 
Và một số sản vật được trưng bày triển lãm tại Đại hội:
 




 

Nguồn tin: Văn phòng HĐND-UBND huyện


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

QUYẾT ĐỊNH Ban hành Quy chế công tác văn thư và lưu trữ của Phòng Dân tộc

UBND HUYỆN NAM TRÀ MY                                    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM     PHÒNG DÂN TỘC              ...

Văn bản mới
Liên kết - Quảng cáo
LOGODANTOC
namtraMy
hu
GisNamTraMy
GisNamTraMy


Điều hành - Liên kết
anh danhba[1]
anh vbpluat[1]
anh hoso(2)[1]
anh lichcongtac[1]
anh thudientu(2)[1]
Thống kê truy cập
  •   Đang truy cập 12
 
  •   Hôm nay 190
  •   Tháng hiện tại 6,361
  •   Tổng lượt truy cập 247,403