Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
CÁC DÂN TỘC HUYỆN NAM TRÀ MY BÌNH ĐẲNG, ĐOÀN KẾT, ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN
hoctaphcm

Thực hiện tốt chính sách Dân tộc trên địa bàn Huyện miền núi Nam Trà My- Tỉnh Quảng Nam.

Thứ hai - 10/04/2017 04:28

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách nhằm quan tâm, hỗ trợ cho đồng bào Dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn phát triển sản xuất, nâng cao đời sống. Cùng với sự phát triển chung đó, công tác Dân tộc miền núi của huyện Nam Trà My cũng đã có nhiều chuyển biến tích cực, từ sự quan tâm thường xuyên của các cấp, các ngành Trung ương, Tỉnh và địa phương, đến nay, đời sống vật chất tinh thần của đồng bào các Dân tộc thiểu số trong huyện được nâng lên rõ rệt, bộ mặt nông thôn miền núi đang khởi sắc từng ngày, khối đại đoàn kết các Dân tộc được củng cố bền chặt. Bộ mặt nông thôn vùng cao ngày càng khởi sắc. Huyện Nam Trà My là huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam có 05 Dân tộc anh em cùng sinh sống ở 10 xã, với  43 thôn, đặc biệt khó khăn. Đồng bào Dân tộc thiểu số chiếm trên 97% với các Dân tộc bản địa sinh sống từ lâu đời như: Cadong, Xê Đăng, Mơ Nông, sinh sống đan xen ở 42 thôn...Do địa hình đồi núi hiểm trở nên điều kiện sản xuất và đời sống của đồng bào các Dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại. Những năm qua, được sự quan tâm thường xuyên của Đảng và Nhà nước, các chính sách đối với vùng đồng bào Dân tộc thiểu số và miền núi đã được huyện Nam Trà My triển khai kịp thời, đúng đối tượng và phát huy hiệu quả rõ rệt, góp phần vào thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Một trong  những kết quả nổi bật đó là: Các hạng mục đầu tư thuộc dự án xây dựng kết cấu hạ tầng và hỗ trợ phát triển sản xuất thuộc chương trình 135, cũng như các hạng mục hỗ trợ kết cấu hạ tầng và kỹ thuật chăn nuôi được triển khai đảm bảo tính công khai, dân chủ, qua đó góp phần phát triển kinh tế xã hội, đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân vùng Dân tộc, giảm tình trạng khó khăn cho đồng bào Dân tộc thiểu số nghèo. Từ năm 2010 đến nay, với sự vào cuộc tích cực của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội trên địa bàn huyện, nhiều chương trình dự án nhằm giúp đỡ, hỗ trợ cho đồng bào các Dân tộc thiểu số được triển khai đồng loạt như chương trình 134, 135, chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, Quyết định 102 về hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo vùng khó khăn, Quyết định 755 hổ trợ nước sinh hoạt phân tán và nông cụ sản xuất. Các chương trình, dự án giảm nghèo đối với các thôn đặc biệt khó khăn, các xã có thôn đặc biệt khó khăn, đối với đồng bào các Dân tộc. Đặc biệt là Đề án hỗ trợ sản xuất cho 09 xã nghèo có tỷ lệ hộ nghèo trên 56% của huyện… được huyện Nam Trà My triển khai, tổ chức thực hiện đảm bảo dân chủ, công khai, đúng đối tượng, đúng địa bàn người dân được hưởng lợi, người dân nhận đủ các nguồn hỗ trợ theo quy định. Các công trình xây dựng đảm bảo chất lượng và tiến độ thời gian. Trong 5 năm Huyện Nam Trà My đã tiếp nhận và đầu tư nhiều hạng mục công trình, xây dựng nhiều công trình các loại cho 10 xã trong toàn huyện, chủ yếu là công trình đường giao thông nông thôn, công trình trường học, công trình Điện, Trạm y tế, nhà sinh hoạt cộng đồng và Chợ. Nhìn chung các công trình được đầu tư xây dựng đưa vào khai thác sử dụng đã và đang phát huy được hiệu quả, góp phần đắc lực cho sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương các xã vùng cao, vùng đồng bào Dân tộc thiểu số. Thực hiện Quyết định 102, ngày 7/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn, từ năm 2010 đến nay, toàn huyện đã thực hiện việc hỗ trợ gần 122 tấn muối và tiền mặt. Từ chính sách hỗ trợ của Chính phủ, các hộ đồng bào Dân tộc thiểu số Huyện Nam Trà My đã có điều kiện đầu tư phát triển sản xuất xóa đói giảm nghèo bền vững.

 Trong những năm qua UBND huyện đã phê duyệt danh sách tín chấp với Ngân hàng chính sách xã hội huyện tạo điều kiện cho các hộ đồng bào Dân tộc thiểu số nghèo đặc biệt khó khăn trong toàn huyện vay vốn và phát triển sản xuất. Nhờ vậy, nhiều hộ khó khăn đã có vốn để đầu tư chăn nuôi, trồng cây ăn qủa và phát triển kinh tế đồi rừng từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững. Đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng lên rõ rệt. Bộ mặt nông thôn vùng cao đang khởi sắc từng ngày. Điển hình như gia đình ông Nguyễn Văn Lượng sống tại thôn 2 xã Trà Linh là một tấm gương sáng trong phong trào này. Ghi nhớ lời Bác dạy về tính cần cù, chịu thương, chịu khó nên trong các năm qua anh Lượng đã chăm chỉ hăng say lao động, sản xuất để đẩy lùi cái đói, nghèo. Với lợi thế là vùng đất được thiên nhiên ban tặng cho cây sâm Ngọc Linh, một loại dược liệu có giá trị dược chất cũng như giá trị kinh tế hàng đầu ở nước ta, anh Lượng đã bám lấy cơ hội này và biến những gốc sâm thành bàn đạp để xóa đói giảm nghèo. Nhờ siêng năng mở rộng diện tích canh tác cũng như tính kiên trì mò mẫm, sáng tạo trong cách nhân giống cây sâm nên đến nay anh Nguyễn Văn Lượng được xác nhận là người có nhiều sâm Ngọc Linh nhất ở Nam Trà My. Và khi có sâm nhiều thì tài sản kinh tế gia đình anh cũng khấm khá hơn mọi người trong thôn, nóc. Quả không sai so với lời đồn thổi rằng anh Lượng là tỉ phú trên đỉnh Ngọc Linh này. Theo lời kể thì anh bắt đầu trồng sâm Ngọc Linh từ ngày mới lập gia đình. Ngày đó mỗi ký sâm Ngọc Linh chỉ có giá khoảng 30 nghìn đồng. Thậm chí những lúc không bán được sâm bị úng thối nên anh cũng chưa mặn mà với loại cây dược liệu này. Song với ý chí làm giàu từ cây sâm nên anh Lượng tích lũy kinh nghiệm trồng và chăm sóc. Anh đã tự thu hoạch hạt sâm ngoài tự nhiên mang về ươm giống và chọn những khoảng đất mùn có tán lá che ở độ cao khoảng 1.700 mét trở lên để trồng. Và khi cây sâm Ngọc Linh được y học phát hiện là loại cây dược liệu quí hiếm nên gía trị của mỗi củ sâm cũng tăng lên đáng kể. Giai đoạn năm 2000, các vườn sâm của anh lượng đã mang về thu nhập cho gia đình mỗi năm đạt gần 100 triệu đồng. Hiện tại gia đình anh Lượng đang cai quản hơn 50 nghìn gốc sâm Ngọc Linh trên 10 năm tuổi với giá trị vài chục tỉ đồng. Quả là một khối tài sản vô cùng to lớn đối với một người nông dân định cư nơi rẻo cao này.

Còn đối với anh Đinh Xuân Thanh (xã Trà Mai), khi nhìn thấy thế mạnh về đất đai, thổ nhưỡng phù hợp cho chăn nuôi nên đã mạnh dạn đầu tư nuôi trâu, bò. Từ một con bò mẹ và một con trâu nghé mua về chăn thả, nhờ biết áp dụng khoa học kỹ thuật, đàn bò của anh đã phát triển lên 7 con, đàn trâu 3 con. Năm ngoái anh Thanh bán 4 con bò thu về 37 triệu đồng và bán 1 con trâu được 28 triệu đồng. Anh Thanh cho biết, hiện tại đang đầu tư nuôi thêm bò mẹ và hằng năm đều sinh sản ra bê con. Không những thế, anh còn đầu tư trồng keo, các loại cây ăn quả và đào ao thả cá để tăng thu nhập cho gia đình không dưới 100 triệu đồng mỗi năm. Từ thành công này anh Thanh đã thoát được nghèo và vươn lên làm giàu hiệu quả. Anh Đinh Xuân Thanh chia sẻ kinh nghiệm: “Nếu muốn thoát nghèo dựa vào mô hình nuôi bò sinh sản, trước hết phải làm chuồng trại kỹ càng. Mùa mưa không nên cho bò ra ngoài vì dễ chết rét. Hằng ngày phải bổ sung thêm nguồn thức ăn tự nhiên cho bò nhanh lớn, nhất là khi bò mẹ đang mang thai”.

Tuy nhiên, do địa hình phức tạp, địa bàn rộng, giao thông đi lại khó khăn, thường xuyên phải chịu ảnh hưởng của thiên tai; đồng bào dân tộc sống phân tán, ít có cơ hội tiếp xúc với các dịch vụ; nhiều nơi tập quán canh tác còn lạc hậu, sản xuất mang tính tự cung tự cấp dựa vào tự nhiên... Cùng với đó, trình độ của một bộ phận cán bộ làm công tác dân tộc còn hạn chế, nhiều nơi chưa bám sát dân, ít am hiểu tâm tư nguyện vọng của người dân. Đó là những khó khăn, vướng mắc, làm ảnh hưởng không nhỏ tới việc tiếp cận và thụ hưởng các chính sách dân tộc của đồng bào các dân tộc thiểu số cũng như phát triển KT-XH ở địa phương. Để tiếp tục triển khai có hiệu quả các chính sách dân tộc những năm tới, huyện tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong cán bộ và các tầng lớp nhân dân về các phong trào thi đua yêu nước, công tác dân tộc, chính sách dân tộc, các gương điển hình tiêu biểu của đồng bào các dân tộc trong học tập, lao động sản xuất nhằm tạo ra các phong trào thi đua sôi nổi; tiếp tục thực hiện tốt các mục tiêu phát triển KT-XH, huy động nhiều nguồn lực cho đầu tư phát triển, ưu tiên đầu tư giảm nghèo bền vững, giải quyết những khó khăn, bức xúc của đồng bào dân tộc thiểu số; đẩy mạnh ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất. Từ đó giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc trên địa bàn huyện Nam Trà My.
Có thể nói, với sự hỗ trợ của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm thường xuyên của cấp ủy, chính quyền các cấp đã tiếp thêm sức mạnh giúp đồng bào các Dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Nam Trà My hăng hái đoàn kết thi đua lao động sản xuất phát triển kinh tế, từng bước thoát nghèo bền vững. Đời sống vật chất được nâng lên, các chính sách an sinh xã hội được quan tâm. Công tác giáo dục, y tế được đầu tư thỏa đáng. Đây sẽ là điều kiện tốt để thúc đẩy sự nghiệp giáo dục đào tạo nguồn nhân lực và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân vùng cao nói chung, nhất là đồng bào Dân tộc thiểu số nói riêng. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào từng bước được cải thiện và nâng cao, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hôi được giữ vững, quyền bình đẳng giữa các Dân tộc tiếp tục được củng cố và tăng cường. Để chính sách đến được với đồng bào một cách hiệu quả nhất, căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp của từng địa phương và nhu cầu của người dân, UBND huyện Nam Trà My đã phân bổ chi tiết vốn thực hiện dự án hỗ trợ phát triển sản xuất cho các thôn, ĐBKK thuộc các xã khu vực III. Giao cho UBND các xã làm chủ đầu tư thực hiện dự án chỉ đạo các thôn tổ chức bình xét, lựa chọn đối tượng hưởng lợi, bảo đảm nguyên tắc công khai, dân chủ, dân biết, dân bàn, dân làm, dân  kiểm tra... Với những cách làm đó, từ năm 2010 đến nay huyện Nam Trà My  đầu tư xây dựng nhiều công trình các loại tại 10 xã đặc biệt khó khăn. UBND các xã lựa chọn danh mục công trình thiết yếu thông qua thường trực HĐND xã, đồng thời lập báo cáo kinh tế kỹ thuật, tổng dự toán, lựa chọn nhà thầu trình Chủ tịch UBND huyện phê duyệt theo đúng quy định của Pháp luật. Đi đôi với thực hiện các chương trình, dự án về hỗ trợ phát triển các Dân tộc thiểu số, chính sách đối với già làng, người uy tín DTTS luôn được Huyện ủy, UBND huyện Nam Trà My đặc biệt quan tâm thực hiện tốt. Hàng năm, nhân dịp tết nguyên đán, cấp ủy, chính quyền địa phương đã tổ chức đi thăm, tặng quà cho các già làng, người có uy tín trong đồng bào Dân tộc thiểu số.
Phòng Dân tộc huyện đã phối hợp cùng với Đảng ủy-HĐND-UBND-MTTQ các xã động viên người có uy tín tiếp tục phát huy vai trò của mình trong việc tuyên truyền các chủ trương, đường lối chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước tới nhân dân; động viên con cháu lao động sản xuất phát triển kinh tế gia đình, đoàn kết giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Dân tộc. Thông qua việc tổ chức Ngày hội văn hóa thể thao các Dân tộc của huyện và một số xã trên địa bàn đã góp phần tôn vinh và khơi dậy những nét văn hóa đặc sắc của các Dân tộc anh em đang sinh sống trên địa bàn. Đưa thông tin đến với học sinh Dân tộc thiểu số Không những vậy, việc hình thành các CLB hát làn điệu dân ca, hát cheo…các Dân tộc trong toàn huyện đã trở thành sân chơi văn hóa giàu truyền thống, nơi lưu giữ và bảo tồn được trang phục, ngôn ngữ và những làn điệu dân ca đặc trưng của từng Dân tộc như: Dân ca hát cheo Dân tộc Cadong, Xê Đăng, Mơ Nông... Từ kết quả thực hiện các chính sách hỗ trợ đối với đồng bào Dân tộc, các xã đặc biệt khó khăn đã từng bước tạo tiền đề cơ bản để các địa phương có những chuyển biến rõ rệt về mọi mặt. Từng bước giải quyết một phần nhu cầu bức thiết về cơ sở hạ tầng ở các thôn đặc biệt khó khăn; trang bị phương tiện và kiến thức làm kinh tế nông, lâm nghiệp cho đồng bào Dân tộc thiểu số, giúp họ thay đổi dần tập quán canh tác manh mún, lạc hậu, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới.
Tuy nhiên để giúp đồng bào phát triển bền vững, trước hết, cấp ủy, chính quyền huyện Nam Trà My cần tiếp tục thực hiện và phát huy hiệu quả các chính sách hỗ trợ của chính phủ cho đồng bào Dân tộc thiểu số như chính sách văn hoá, y tế, giáo dục, vay vốn tín dụng ưu đãi; tập trung hỗ trợ về sinh kế cho đồng bào thông qua trợ giúp các điều kiện và dịch vụ sản xuất, đào tạo nghề để tạo việc làm, tăng thu nhập; Tiếp tục ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh, nhất là đầu tư cho các thôn, ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để đồng bào các Dân tộc thiểu số tự tin vươn lên trong cuộc sống, góp phần xây dựng huyện miền núi Nam Trà My ngày càng giàu đẹp và văn minh.
 

Nguồn tin: Nguyễn Văn Bình - Trưởng Phòng Dân tộc


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

 

Những tin cũ hơn

Chức năng nhiệm vụ của phòng Dân tộc

I. Vị trí và chức năng:           -  Phòng Dân tộc là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân...

Văn bản mới
Liên kết - Quảng cáo
LOGODANTOC
namtraMy
hu
GisNamTraMy
GisNamTraMy


Điều hành - Liên kết
anh danhba[1]
anh vbpluat[1]
anh hoso(2)[1]
anh lichcongtac[1]
anh thudientu(2)[1]
Thống kê truy cập
  •   Đang truy cập 4
 
  •   Hôm nay 74
  •   Tháng hiện tại 6,082
  •   Tổng lượt truy cập 247,124